PHỤ NỮ VIỆT NAM – ĐƯỢC YÊU THƯƠNG BẰNG TRÁI TIM, ĐƯỢC BẢO VỆ BẰNG PHÁP LUẬT
PHỤ NỮ VIỆT NAM – ĐƯỢC YÊU THƯƠNG BẰNG TRÁI TIM, ĐƯỢC BẢO VỆ BẰNG PHÁP LUẬT
Những quyền lợi pháp lý phụ nữ cần biết nhân ngày 20/10
Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, Công ty Luật TNHH Tre Việt trân trọng gửi tới những người phụ nữ Việt Nam lời chúc tốt đẹp nhất. Chúc mỗi người phụ nữ luôn được yêu thương, tôn trọng, hạnh phúc và tự tin khẳng định giá trị của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Phụ nữ là người giữ lửa hạnh phúc gia đình, đồng thời là lực lượng quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Bảo vệ phụ nữ không chỉ là biểu hiện của sự văn minh, tiến bộ mà còn là trách nhiệm pháp lý được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện.
Nhân dịp 20/10, Luật Tre Việt giới thiệu những quyền lợi pháp lý thiết thực mà phụ nữ cần biết để bảo vệ chính mình.
1. Quyền được nghỉ trong thời gian hành kinh
Theo khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP:
Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, tối thiểu 03 ngày làm việc trong một tháng, tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Số ngày nghỉ cụ thể do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế.
Trường hợp người lao động không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để tiếp tục làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng, người lao động còn được trả thêm tiền lương tương ứng với thời gian đáng lẽ được nghỉ.
Đây là chính sách nhân văn nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản và điều kiện lao động của phụ nữ.
2. Những quyền lợi đặc biệt khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ
Thứ nhất, quyền nghỉ để chăm sóc con dưới 12 tháng tuổi.
Theo khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời giờ làm việc và vẫn hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Thứ hai, quyền nghỉ khám thai hưởng chế độ thai sản.
Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, lao động nữ mang thai đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản được nghỉ việc để khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
Thời gian nghỉ được tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần.
Thứ ba, quyền được bảo đảm việc làm sau khi nghỉ thai sản.
Điều 140 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định lao động được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản mà không bị cắt giảm tiền lương, quyền và lợi ích so với trước khi nghỉ.
Nếu việc làm cũ không còn, người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.
Thứ tư, quyền được bảo vệ trước nguy cơ mất việc làm và xử lý kỷ luật trái pháp luật.
Theo khoản 3 Điều 37, khoản 4 Điều 122 và khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019:
- Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ những trường hợp ngoại lệ luật định.
- Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp pháp luật cho phép.
Hành vi sa thải trái pháp luật có thể bị xử lý hành chính; trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 162 Bộ luật Hình sự.
3. Chính sách nhân đạo đối với phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ trong lĩnh vực hình sự
Pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện chính sách nhân đạo đặc biệt đối với phụ nữ mang thai và phụ nữ đang nuôi con nhỏ.
Theo Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thuộc các trường hợp pháp luật quy định không bị áp dụng hoặc thi hành hình phạt tử hình.
Theo Điều 67 Bộ luật Hình sự, người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi, nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Cần phân biệt rõ: hoãn chấp hành hình phạt tù không đồng nghĩa với miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn chấp hành hình phạt.
4. Quyền ưu tiên trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn
Theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Như vậy, khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi, pháp luật ưu tiên giao con cho mẹ, nhưng đây không phải là quyền tuyệt đối.
Tòa án vẫn phải xem xét điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
5. Quyền được bảo vệ tài sản, thu nhập và tự chủ kinh tế trong hôn nhân
Một vấn đề đáng quan tâm là hành vi bạo lực về kinh tế trong gia đình.
Theo điểm e khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, hành vi chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình là một trong những hành vi bạo lực gia đình.
Điểm k khoản 1 Điều 3 của Luật này còn xác định hành vi cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác là hành vi bạo lực gia đình.
Điều đó có nghĩa, dù là vợ hay chồng, không ai được lợi dụng việc quản lý tiền bạc, tài sản để kiểm soát, áp đặt hoặc tước bỏ quyền tự chủ kinh tế hợp pháp của người còn lại.
Việc vợ chồng tự nguyện thỏa thuận một người quản lý tài chính gia đình không đương nhiên là hành vi bạo lực kinh tế. Yếu tố quan trọng cần xem xét là tính chất cưỡng ép, kiểm soát và mục đích tạo ra sự lệ thuộc.
Các hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý theo quy định pháp luật tương ứng, tùy tính chất, mức độ và quy định xử phạt đang có hiệu lực.
6. Tôn trọng phụ nữ không chỉ là lời chúc ngày 20/10
Những quy định nêu trên không phải là đặc quyền mang tính ưu ái đơn thuần, mà là cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm bình đẳng thực chất, bảo vệ sức khỏe, thiên chức làm mẹ, nhân phẩm và quyền tự chủ của phụ nữ.
Một xã hội tiến bộ không chỉ được đánh giá qua những lời tôn vinh phụ nữ trong ngày lễ, mà còn ở cách các quyền của họ được tôn trọng và thực thi trong đời sống hằng ngày.
Phụ nữ xứng đáng được yêu thương bằng sự chân thành, được đối xử bằng sự bình đẳng và được bảo vệ bằng pháp luật.
Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, Công ty Luật TNHH Tre Việt kính chúc toàn thể phụ nữ Việt Nam luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, bản lĩnh và thành công.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14: Điều 37, Điều 122, Điều 137 và Điều 140.
- Nghị định số 145/2020/NĐ-CP: Điều 80.
- Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15: Điều 51.
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: Điều 81.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và các luật sửa đổi, bổ sung: Điều 40, Điều 67 và Điều 162.
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15: Điều 3.
LUẬT TRE VIỆT – TIN TRE VIỆT, TRỌN GIÁ TRỊ
Website: luattreviet.vn
Hotline: 0989 185 188
Email: luatrevietbn@gmail.com
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách !
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989185188
Theo dõi chúng tôi:






