KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN – CÓ TRÁNH ĐƯỢC QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ MỘT VỢ, MỘT CHỒNG?
KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN – CÓ TRÁNH ĐƯỢC QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ MỘT VỢ, MỘT CHỒNG?
Không đăng ký kết hôn, không tổ chức đám cưới, thậm chí không công khai quan hệ tình cảm, liệu có thể tránh được trách nhiệm pháp lý khi chung sống với người đang có vợ hoặc chồng?
Đây là vấn đề pháp lý được nhiều người quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh các quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân ngày càng phát sinh những tranh chấp phức tạp.
Có người cho rằng chỉ cần không đăng ký kết hôn với người thứ ba thì không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Người khác lại cho rằng cứ có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân là có thể bị xử phạt, thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cả hai cách hiểu trên đều chưa đầy đủ.
Pháp luật Việt Nam không chỉ nghiêm cấm hành vi kết hôn trái pháp luật mà còn điều chỉnh cả hành vi chung sống như vợ chồng với người khác khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, để xác định một người có vi phạm hay không, cần làm rõ bản chất quan hệ, hành vi thực tế và những chứng cứ chứng minh.
Luật Tre Việt phân tích cụ thể như sau:
I. KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ ĐỒNG NGHĨA VỚI KHÔNG VI PHẠM PHÁP LUẬT?
Câu trả lời là KHÔNG.
Theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật nghiêm cấm hai nhóm hành vi:
Thứ nhất: Người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
Thứ hai: Người chưa có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mình biết rõ đang có vợ hoặc chồng.
Như vậy, quy định pháp luật xác định hai hành vi cần phân biệt:
- Kết hôn với người khác khi đang có vợ hoặc chồng.
- Chung sống như vợ chồng với người khác khi đang có vợ hoặc chồng, dù không đăng ký kết hôn.
Điểm đáng chú ý là việc không đăng ký kết hôn không phải căn cứ để loại trừ hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Ví dụ:
Ông A đã đăng ký kết hôn với bà B và chưa ly hôn. Trong thời gian hôn nhân, ông A chuyển đến sinh sống cùng chị C, cùng tổ chức cuộc sống gia đình và coi nhau là vợ chồng.
Mặc dù ông A và chị C không đăng ký kết hôn, nhưng nếu có đủ căn cứ xác định hai người chung sống như vợ chồng thì hành vi này vẫn thuộc trường hợp pháp luật nghiêm cấm.
Đối với chị C, việc xác định trách nhiệm pháp lý còn phải xem xét chị C có biết rõ ông A đang có vợ hay không.
Bản chất của quan hệ chung sống mới là vấn đề cần được xem xét, chứ không đơn thuần là sự tồn tại của giấy đăng ký kết hôn.
II. THẾ NÀO LÀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG?
Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.”
Từ quy định trên, có thể thấy việc xác định chung sống như vợ chồng cần xem xét hai yếu tố cơ bản:
1. Có tổ chức cuộc sống chung
Hai người có thể cùng sinh sống, sinh hoạt, chăm sóc nhau, cùng tổ chức đời sống gia đình hoặc cùng thực hiện những công việc thường gắn với quan hệ vợ chồng.
2. Có sự thể hiện quan hệ như vợ chồng
Hai người coi nhau là vợ chồng và có những hành vi thể hiện quan hệ đó trong cuộc sống.
Trong thực tiễn, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét các tình tiết như:
- Hai người cùng sinh sống tại một địa chỉ trong một khoảng thời gian.
- Cùng tổ chức cuộc sống gia đình và sinh hoạt như vợ chồng.
- Công khai giới thiệu hoặc thừa nhận nhau là vợ chồng.
- Được người thân, hàng xóm hoặc những người xung quanh biết đến như một cặp vợ chồng.
- Có con chung và cùng thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con trong một cuộc sống gia đình.
- Có những tài liệu, hình ảnh, lời khai hoặc chứng cứ khác phản ánh bản chất quan hệ chung sống.
Cần đặc biệt lưu ý: Không phải cứ có một trong những tình tiết trên là đương nhiên được kết luận có hành vi chung sống như vợ chồng.
Ví dụ, việc hai người có con chung là tình tiết có giá trị xem xét nhưng không tự động chứng minh họ đã tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Tương tự, việc cùng thuê nhà, cùng đi du lịch hoặc thường xuyên gặp gỡ cũng chưa đủ để mặc nhiên xác định hành vi vi phạm.
Cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá tổng thể các chứng cứ, làm rõ bản chất và hoàn cảnh cụ thể của từng quan hệ.
III. NGOẠI TÌNH VÀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG?
Đây là vấn đề thường bị nhầm lẫn.
Trong đời sống, ngoại tình thường được hiểu là việc một người đã có vợ hoặc chồng nhưng phát sinh quan hệ tình cảm hoặc quan hệ tình dục với người khác.
Tuy nhiên, ngoại tình không phải là một tội danh độc lập được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Không phải mọi hành vi ngoại tình đều cấu thành hành vi chung sống như vợ chồng.
Có thể phân biệt qua ba trường hợp:
Trường hợp 1: Có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân
Một người đã có gia đình nhưng thường xuyên nhắn tin yêu đương, hẹn hò hoặc có quan hệ tình cảm với người khác.
Những hành vi này có thể vi phạm nghĩa vụ chung thủy giữa vợ và chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, nếu chưa có căn cứ xác định việc chung sống như vợ chồng thì không thể chỉ dựa vào quan hệ tình cảm để xử lý về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Trường hợp 2: Có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân
Một người đã có vợ hoặc chồng phát sinh quan hệ tình dục với người khác nhưng không tổ chức cuộc sống chung và không coi nhau là vợ chồng.
Trong trường hợp này, hành vi không đương nhiên cấu thành vi phạm theo Điều 182 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp 3: Chung sống như vợ chồng với người khác
Một người đang có vợ hoặc chồng nhưng cùng người thứ ba tổ chức cuộc sống chung, coi nhau là vợ chồng.
Nếu có đủ căn cứ chứng minh, hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện luật định.
Như vậy, ranh giới pháp lý quan trọng không chỉ nằm ở việc có quan hệ tình cảm hay quan hệ tình dục, mà còn ở việc hai người có thực sự tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng hay không.
IV. CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TRÁI PHÁP LUẬT BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự.
1. Xử phạt vi phạm hành chính
Theo điểm b và điểm c khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng được áp dụng đối với:
- Người đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.
- Người chưa có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người mình biết rõ đang có vợ hoặc chồng.
Ví dụ:
Ông A đang có vợ nhưng chung sống như vợ chồng với chị C.
Nếu hành vi được chứng minh và chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, ông A có thể bị xử phạt hành chính.
Chị C cũng có thể bị xử phạt nếu thuộc trường hợp luật định và có căn cứ chứng minh chị biết rõ ông A đang có vợ.
2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Khung hình phạt thứ nhất:
Người thực hiện hành vi thuộc phạm vi điều luật có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc một trong hai trường hợp:
- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Đối với trường hợp dẫn đến ly hôn, cần chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả ly hôn; không phải cứ có ly hôn là mặc nhiên đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Khung hình phạt thứ hai:
Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.
- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng nhưng vẫn duy trì quan hệ đó.
Như vậy, mức hình phạt tù cao nhất đối với tội danh này là 03 năm tù.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý phải căn cứ vào đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định.
V. NGƯỜI BỊ XÂM PHẠM QUYỀN LỢI TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CẦN LÀM GÌ?
Khi phát hiện vợ hoặc chồng có dấu hiệu chung sống như vợ chồng với người khác, người bị ảnh hưởng cần bình tĩnh xác định bản chất sự việc và thu thập chứng cứ hợp pháp.
Thứ nhất, xác định tình trạng hôn nhân.
Cần làm rõ người có hành vi bị phản ánh đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không.
Việc vợ chồng đã ly thân, không còn tình cảm hoặc sống riêng nhiều năm không đồng nghĩa với việc quan hệ hôn nhân đã chấm dứt.
Theo Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, thu thập chứng cứ về hành vi chung sống như vợ chồng.
Tùy từng trường hợp, chứng cứ có thể bao gồm:
- Hình ảnh, video, tin nhắn và tài liệu điện tử được thu thập hợp pháp.
- Tài liệu thể hiện việc tổ chức cuộc sống chung.
- Lời khai của người biết rõ sự việc.
- Các tài liệu chứng minh hai người công khai hoặc thừa nhận quan hệ vợ chồng.
- Những chứng cứ khác có liên quan.
Cần lưu ý rằng chứng cứ phải được thu thập bằng phương thức hợp pháp. Không nên tự ý xâm nhập điện thoại, tài khoản cá nhân, nơi ở hoặc thực hiện các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của người khác.
Thứ ba, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý.
Khi có căn cứ cho rằng đã xảy ra hành vi vi phạm hành chính, người bị ảnh hưởng có thể gửi đơn phản ánh, đề nghị xử lý kèm tài liệu chứng cứ đến cơ quan có thẩm quyền.
Nếu có dấu hiệu tội phạm theo Điều 182 Bộ luật Hình sự, có thể gửi đơn tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác.
Thứ tư, bảo vệ quyền lợi trong trường hợp ly hôn.
Nếu quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục, người bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và các vấn đề liên quan.
Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, việc vợ hoặc chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ trong hôn nhân có thể là căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi đáp ứng điều kiện luật định.
Đối với tài sản chung, khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc chia tài sản phải tính đến nhiều yếu tố, trong đó có lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng ngoại tình không đồng nghĩa với việc đương nhiên mất quyền đối với tài sản chung hoặc mất quyền nuôi con.
Việc chia tài sản, giao con cho người trực tiếp nuôi dưỡng và xác định nghĩa vụ cấp dưỡng phải được giải quyết theo các quy định pháp luật tương ứng.
VI. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ THƯỜNG GẶP
1. Đã ly thân nhưng chưa ly hôn, chung sống với người khác có vi phạm không?
Có thể vi phạm.
Ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nếu một người đang có vợ hoặc chồng hợp pháp mà chung sống như vợ chồng với người khác thì vẫn thuộc trường hợp pháp luật nghiêm cấm.
2. Hai người sống chung nhưng không đăng ký kết hôn, không tổ chức đám cưới thì sao?
Việc không đăng ký kết hôn hoặc không tổ chức đám cưới không loại trừ trách nhiệm pháp lý.
Điều quan trọng là có đủ căn cứ xác định hai người tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng hay không.
3. Người thứ ba không biết đối phương đã có gia đình thì có bị xử phạt không?
Đối với người chưa có vợ hoặc chồng, các quy định xử phạt nêu trên đòi hỏi phải xác định người đó biết rõ đối phương đang có vợ hoặc chồng.
Vì vậy, nếu thực sự không biết và không có căn cứ chứng minh yếu tố biết rõ thì không thể mặc nhiên xử lý họ theo các quy định này.
4. Có con chung với người khác có đương nhiên bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng không?
Không đương nhiên.
Việc có con chung là một tình tiết có thể được xem xét nhưng vẫn phải làm rõ có hành vi chung sống như vợ chồng hay không.
5. Vợ hoặc chồng ngoại tình có bị phạt tù không?
Không phải cứ ngoại tình là bị phạt tù.
Chỉ khi hành vi thuộc phạm vi Điều 182 Bộ luật Hình sự và đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì mới có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
VII. QUAN ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA LUẬT TRE VIỆT
Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Nguyên tắc này không chỉ được bảo vệ thông qua thủ tục đăng ký kết hôn mà còn bằng những quy định nghiêm cấm hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật.
Tuy nhiên, khi đánh giá một quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân, cần phân biệt rõ giữa chuẩn mực đạo đức, nghĩa vụ chung thủy và trách nhiệm pháp lý.
Không thể chỉ dựa vào sự nghi ngờ, một vài tin nhắn, hình ảnh hoặc những lời phản ánh chưa được kiểm chứng để kết luận một người vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Ngược lại, cũng không thể lấy lý do không đăng ký kết hôn để phủ nhận hành vi vi phạm nếu thực tế đã có đủ căn cứ xác định việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật.
Pháp luật không chỉ xem xét hình thức của một mối quan hệ mà còn đánh giá bản chất, hành vi và hậu quả pháp lý của mối quan hệ đó.
Đây chính là điểm cần được nhận thức đúng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời tránh việc tố cáo, quy kết thiếu căn cứ.
Khi gặp các vấn đề liên quan đến ngoại tình, chung sống như vợ chồng trái pháp luật, ly hôn, tranh chấp tài sản, quyền nuôi con hoặc cần tư vấn về việc thu thập chứng cứ, hãy liên hệ Luật Tre Việt để được tư vấn và hỗ trợ.
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT
Luật sư Nguyễn Văn Viên
Hotline/Zalo: 0989 185 188
Website: luattreviet.vn
Email: luattrevietbn@gmail.com
Theo dõi chúng tôi:


TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: Điều 3, Điều 5, Điều 19, Điều 56, Điều 57 và Điều 59.
- Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: Điều 59.
- Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Điều 182.




