Cách tính án phí vụ án chia thừa kế mới nhất năm 2026, án phí có giá ngạch ?, người nhận thừa kế có phải nộp thuế không?
Cách tính án phí vụ án chia thừa kế mới nhất năm 2026, án phí có giá ngạch?, người nhận thừa kế có phải nộp thuế không?
1. Nguyên tắc tính án phí chia di sản thừa kế
Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, trong vụ án yêu cầu chia di sản:
Mỗi người thừa kế phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần di sản mà người đó thực tế được Tòa án chia hoặc công nhận được hưởng.
Do đó, không phải nguyên đơn chịu toàn bộ án phí, dù nguyên đơn là người khởi kiện. Bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu được chia di sản thì cũng phải chịu án phí trên kỷ phần của mình.
Công thức:
Án phí của từng người = mức án phí có giá ngạch tính trên giá trị kỷ phần người đó được hưởng.
2. Biểu mức án phí
| Giá trị phần di sản một người được hưởng | Án phí phải chịu |
|---|---|
| Từ 6 triệu đồng trở xuống | 300.000 đồng |
| Trên 6 triệu đến 400 triệu đồng | 5% giá trị được hưởng |
| Trên 400 triệu đến 800 triệu đồng | 20 triệu + 4% phần vượt 400 triệu |
| Trên 800 triệu đến 2 tỷ đồng | 36 triệu + 3% phần vượt 800 triệu |
| Trên 2 tỷ đến 4 tỷ đồng | 72 triệu + 2% phần vượt 2 tỷ |
| Trên 4 tỷ đồng | 112 triệu + 0,1% phần vượt 4 tỷ |
Đây là biểu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
3. Ví dụ tính cụ thể
Di sản sau khi xác định là 3 tỷ đồng, có 3 người thừa kế, mỗi người được chia 1 tỷ đồng.
Án phí của mỗi người: 36 triệu + 3% × (1 tỷ − 800 triệu) = = 36 triệu + 6 triệu = = 42 triệu đồng.
Như vậy:
- Người thứ nhất chịu 42 triệu đồng;
- Người thứ hai chịu 42 triệu đồng;
- Người thứ ba chịu 42 triệu đồng.
Tổng án phí sơ thẩm của vụ án là 126 triệu đồng.
Lưu ý: không lấy 3 tỷ đồng tính một lần rồi chia án phí cho ba người; phải tính riêng theo giá trị kỷ phần của từng người.
4. Trường hợp một người nhận toàn bộ nhà đất và trả tiền chênh lệch
Ví dụ nhà đất trị giá 3 tỷ đồng, Tòa giao toàn bộ cho ông A; ông A có nghĩa vụ thanh toán cho ông B và bà C mỗi người 1 tỷ đồng.
Về bản chất:
- Ông A được hưởng kỷ phần ròng 1 tỷ đồng;
- Ông B được hưởng 1 tỷ đồng bằng tiền;
- Bà C được hưởng 1 tỷ đồng bằng tiền.
Án phí về nguyên tắc được tính trên giá trị kỷ phần thực tế được hưởng, không phải mặc nhiên tính cho ông A trên toàn bộ nhà đất 3 tỷ đồng, bởi ông A còn phải thanh toán 2 tỷ đồng chênh lệch cho hai người kia. Mỗi người chịu 42 triệu đồng theo ví dụ trên.
5. Phần yêu cầu bị bác có phải chịu án phí không?
Trong vụ án chia thừa kế, nếu nguyên đơn yêu cầu được hưởng 1/2 di sản nhưng Tòa chỉ xác định được hưởng 1/3 thì nguyên đơn:
- Chịu án phí trên phần 1/3 thực tế được hưởng;
- Không phải chịu án phí trên phần yêu cầu vượt quá bị Tòa bác.
Đây là điểm đặc thù của án phí chia di sản theo điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326.
Nếu Tòa án xác định tài sản mà đương sự yêu cầu chia không phải là di sản của người chết để lại, người có yêu cầu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.
6. Di sản có nghĩa vụ trả nợ cho người thứ ba
Nếu di sản phải dùng để trả nợ, thực hiện nghĩa vụ tài sản thì:
- Án phí của người thừa kế được tính trên phần di sản họ được hưởng sau khi trừ nghĩa vụ đối với người thứ ba;
- Đối với phần di sản dùng thực hiện nghĩa vụ chung, các đồng thừa kế chịu án phí theo phần nghĩa vụ mà Tòa án xác định;
- Người thứ ba có yêu cầu được chấp nhận thì không phải chịu án phí đối với khoản được nhận; nếu yêu cầu độc lập bị bác thì chịu án phí đối với phần bị bác.
7. Tiền tạm ứng án phí khi khởi kiện
Người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí bằng:
50% mức án phí sơ thẩm mà Tòa án tạm tính trên giá trị phần di sản người khởi kiện yêu cầu được chia, nhưng tối thiểu không thấp hơn 300.000 đồng.
Ví dụ người khởi kiện yêu cầu hưởng 1 tỷ đồng:
- Án phí dự tính: 42 triệu đồng;
- Tạm ứng án phí: 42 triệu × 50% = 21 triệu đồng.
Tiền tạm ứng này sẽ được đối trừ vào án phí người khởi kiện phải chịu theo bản án; phần thừa được hoàn trả.
8. Hòa giải thành và miễn án phí
Nếu các bên hòa giải thành trong giai đoạn Đối thoại, hòa giải tại Tòa án (Tòa án chưa thụ lý vụ án) thì các bên không phải nộp án phí. Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành. Quyết định này có giá trị như bản án.
Nếu các bên hòa giải thành trước khi mở phiên tòa và được Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận thì chỉ chịu 50% mức án phí sơ thẩm tính trên phần tài sản mỗi người được nhận.
Chỉ thỏa thuận được tại phiên tòa: chịu 100% án phí
Nếu phiên tòa đã khai mạc, đến phần hỏi hoặc tại phiên tòa các bên mới thỏa thuận được với nhau, Hội đồng xét xử có thể công nhận sự thỏa thuận theo Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng án phí được tính:
Như trường hợp Tòa án xét xử vụ án, tức là không được giảm 50%.
Đây là quy định tại khoản 8 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
Người thuộc diện như người cao tuổi, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ, hộ nghèo hoặc cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em có thể được miễn án phí nhưng cần có đơn đề nghị miễn án phí và giấy tờ chứng minh nộp cho Tòa án.
Kết luận: Muốn tính chính xác án phí vụ chia thừa kế phải xác định ba số liệu: tổng giá trị di sản thực tế, nghĩa vụ tài sản phải trừ khỏi di sản và giá trị kỷ phần cuối cùng mỗi đương sự được Tòa án chia.

9. Khi nhận di sản thừa kế thì người nhận có phải nộp thuế không?
Không phải mọi trường hợp nhận di sản đều phải nộp thuế
Theo quy định hiện hành từ 01/7/2026, nghĩa vụ tài chính phụ thuộc vào loại di sản và quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế.
9.1. Trường hợp phải nộp thuế thu nhập cá nhân
Thu nhập từ thừa kế thuộc diện chịu thuế khi di sản là:
- Bất động sản;
- Chứng khoán;
- Phần vốn trong tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh;
- Ô tô, xe máy, tàu thuyền và tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.
Mức thuế: Thuế TNCN = 10% × phần giá trị di sản vượt trên 20 triệu đồng/lần nhận
Đây là mức mới theo Điều 18 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Trước đây ngưỡng tính thuế là 10 triệu đồng, nay đã nâng lên 20 triệu đồng.
Ví dụ: Người cháu nhận thừa kế của người bác một thửa đất có giá tính thuế là 2 tỷ đồng, không thuộc diện miễn:
Thuế TNCN = (2 tỷ − 20 triệu) × 10% = 198 triệu đồng.
9.2. Thừa kế nhà, đất giữa người thân được miễn thuế
Thu nhập từ nhận thừa kế là bất động sản được miễn thuế nếu phát sinh giữa:
- Vợ với chồng;
- Cha mẹ đẻ với con đẻ;
- Cha mẹ nuôi với con nuôi;
- Cha mẹ chồng với con dâu;
- Cha mẹ vợ với con rể;
- Ông bà nội với cháu nội;
- Ông bà ngoại với cháu ngoại;
- Anh, chị, em ruột với nhau.
Đây là trường hợp miễn thuế tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
Như vậy:
- Con nhận thừa kế đất của cha mẹ: không nộp thuế TNCN.
- Vợ nhận thừa kế nhà của chồng: không nộp thuế TNCN.
- Anh chị em ruột nhận thừa kế của nhau: không nộp thuế TNCN.
- Cháu nhận thừa kế của cô, dì, chú, bác, cậu: không thuộc diện miễn nêu trên, nên về nguyên tắc phải nộp thuế.
- Anh chị em họ nhận thừa kế của nhau: không thuộc diện miễn.
Lưu ý: việc chia thừa kế bằng văn bản công chứng hay bằng bản án của Tòa án không làm thay đổi căn cứ miễn thuế; điều quyết định là quan hệ giữa người chết và người được hưởng di sản.
9.3. Có phải nộp lệ phí trước bạ nhà, đất không?
Nếu nhận thừa kế nhà, đất giữa các quan hệ thân thích nêu trên thì người nhận còn được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký sang tên giấy chứng nhận theo khoản 10 Điều 10 Nghị định 10/2022/NĐ-CP.
Nếu không thuộc diện miễn thì lệ phí trước bạ nhà, đất là:
Lệ phí trước bạ = 0,5% × giá tính lệ phí trước bạ.
Do đó, người cháu nhận đất của người bác trong ví dụ trên có thể phải chịu đồng thời:
- Thuế TNCN: 198 triệu đồng;
- Lệ phí trước bạ: 0,5% giá trị tính lệ phí;
- Phí cấp giấy chứng nhận, phí đo đạc, trích lục và chi phí thủ tục khác nếu phát sinh.
9.4. Nhận thừa kế bằng tiền có chịu thuế không?
Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tài sản thông thường không phải đăng ký quyền sở hữu không thuộc nhóm di sản chịu thuế thu nhập cá nhân từ thừa kế theo khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Vì vậy, con nhận thừa kế tiền tiết kiệm của cha mẹ thông thường không phải nộp thuế TNCN đối với khoản tiền thừa kế đó.
9.5. Cần phân biệt “từ chối di sản” và “nhường kỷ phần”
Nếu người thừa kế làm thủ tục từ chối nhận di sản hợp lệ trước khi phân chia, họ không phát sinh thu nhập từ thừa kế.
Nhưng nếu người đó đã được xác định có quyền hưởng, sau đó “nhường”, tặng hoặc chuyển phần của mình cho người khác, cơ quan thuế có thể xác định đây là một giao dịch tặng cho hoặc chuyển nhượng riêng. Khi đó, việc miễn thuế phải xét quan hệ giữa người nhường và người nhận, không chỉ xét quan hệ với người đã chết.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách !
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989 185 188
Theo dõi chúng tôi:






