TÁI HÔN SAU LY HÔN: CÓ BỊ TƯỚC QUYỀN NUÔI CON? NHỮNG ĐIỀU CHA MẸ CẦN BIẾT
Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ có quyền xây dựng cuộc sống hôn nhân mới. Tuy nhiên, nếu người đang trực tiếp nuôi con tái hôn, liệu người đó có bị mất quyền nuôi con? Người còn lại có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con chỉ vì lý do đối phương đã kết hôn với người khác hay không? Bài viết dưới đây Luật Tre Việt sẽ làm rõ khúc mắc của bạn đọc về vấn đề trên.
1. Căn cứ pháp lý về quyền nuôi con sau khi ly hôn
Các quy định pháp luật cần lưu ý gồm:
-
Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13, Điều 81 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
-
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 84 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
-
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 85 về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
-
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.
1.1. Quy định về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Khoản 1 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Như vậy, sau khi ly hôn, cả cha và mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con không vì thế mà mất quyền và nghĩa vụ làm cha, mẹ.
Việc xác định người trực tiếp nuôi con được căn cứ vào thỏa thuận của cha mẹ hoặc quyết định của Tòa án. Trong trường hợp có tranh chấp, quyền lợi về mọi mặt của con là yếu tố quan trọng để xem xét.
1.2. Quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con
Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khoản 2 Điều 84 quy định:
“2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
Đối chiếu quy định trên, có thể thấy việc tái hôn không phải là căn cứ độc lập để Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Muốn yêu cầu thay đổi, cần xem xét các căn cứ cụ thể được pháp luật quy định.
2. Người trực tiếp nuôi con tái hôn có bị mất quyền nuôi con không?
Câu trả lời là không đương nhiên mất quyền nuôi con.
Pháp luật không cấm người đang trực tiếp nuôi con kết hôn với người khác sau khi ly hôn. Việc tái hôn cũng không tự động làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã được xác định theo bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Ví dụ, sau khi ly hôn, người mẹ được Tòa án giao trực tiếp nuôi con. Một thời gian sau, người mẹ kết hôn với người khác nhưng vẫn bảo đảm điều kiện sinh hoạt, học tập, chăm sóc và giáo dục con. Trong trường hợp này, người cha không thể chỉ dựa vào việc người mẹ đã tái hôn để mặc nhiên yêu cầu Tòa án giao con cho mình.
Ngược lại, nếu sau khi tái hôn, người mẹ không còn đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con hoặc môi trường sống của con phát sinh những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ, các tình tiết đó có thể được xem xét khi giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Điều quan trọng là phải đánh giá điều kiện nuôi dưỡng và lợi ích thực tế của trẻ, chứ không chỉ dựa vào tình trạng hôn nhân mới của cha hoặc mẹ.
3. Những trường hợp có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi tái hôn
3.1. Cha mẹ thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con
Theo điểm a khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ có thể thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu việc thay đổi phù hợp với lợi ích của con.
Chẳng hạn, sau khi tái hôn, người mẹ chuyển nơi cư trú, thay đổi công việc hoặc có hoàn cảnh mới khiến việc chăm sóc con gặp khó khăn. Nếu người cha có điều kiện phù hợp và hai bên thống nhất để người cha trực tiếp nuôi con, các bên có thể đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Việc thỏa thuận cần hướng đến quyền lợi của trẻ, không phải là cách để cha hoặc mẹ từ bỏ trách nhiệm hoặc gây bất lợi cho bên còn lại.
3.2. Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
Theo điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi người đang nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Một số tình huống có thể cần xem xét gồm:
-
Người trực tiếp nuôi con thường xuyên bỏ bê, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.
-
Trẻ bị bạo lực, xâm hại hoặc sống trong môi trường không an toàn.
-
Người trực tiếp nuôi con không còn khả năng bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc chăm sóc, học tập và phát triển của trẻ.
-
Hoàn cảnh gia đình mới phát sinh những yếu tố gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe thể chất, tinh thần hoặc sự phát triển của con.
Tuy nhiên, không phải mọi thay đổi về nơi ở, điều kiện kinh tế hoặc hoàn cảnh gia đình đều dẫn đến việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án cần xem xét các tình tiết thực tế, chứng cứ và mức độ ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ.
3.3. Nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên
Theo khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên phải được xem xét khi quyết định người trực tiếp nuôi con và khi giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ví dụ, sau khi mẹ tái hôn, con mong muốn được sống với cha. Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng này cùng các yếu tố liên quan như điều kiện chăm sóc, môi trường sống, việc học tập và sự ổn định trong quá trình phát triển của trẻ.
Nguyện vọng của con là yếu tố quan trọng nhưng không phải căn cứ duy nhất quyết định kết quả giải quyết vụ việc.
4. Muốn giành quyền trực tiếp nuôi con, cần chuẩn bị những chứng cứ gì?
Khi không thỏa thuận được về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, người yêu cầu cần cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ đề nghị Tòa án giải quyết.
Tùy từng vụ việc, tài liệu có thể bao gồm:
-
Bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật.
-
Tài liệu thể hiện điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
-
Tài liệu, hình ảnh, tin nhắn hoặc chứng cứ hợp pháp về việc bỏ bê, bạo lực, xâm hại hoặc những nguy cơ ảnh hưởng đến trẻ.
-
Hồ sơ y tế hoặc tài liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe, tâm lý của con, nếu có.
-
Tài liệu chứng minh điều kiện về nơi ở, thời gian chăm sóc, công việc và khả năng trực tiếp nuôi dưỡng con của người yêu cầu.
-
Các tài liệu khác có liên quan đến quyền và lợi ích của trẻ.
Việc thu thập và sử dụng chứng cứ phải tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và lợi ích của trẻ em.
Đặc biệt, chỉ chứng minh người đang trực tiếp nuôi con đã tái hôn là chưa đủ. Người yêu cầu cần chứng minh căn cứ pháp luật để thay đổi người trực tiếp nuôi con.
5. Trường hợp cha hoặc mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên
Bên cạnh việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, pháp luật còn quy định về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”
Theo Điều 85, việc hạn chế quyền của cha, mẹ chỉ được đặt ra khi có căn cứ luật định. Việc tái hôn tự thân không thuộc các trường hợp nêu trên.
Cần phân biệt giữa việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84 và việc hạn chế quyền của cha, mẹ theo Điều 85. Đây là những vấn đề pháp lý khác nhau, được xem xét theo các căn cứ và điều kiện riêng.
6. Ai có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con?
Khoản 1 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[...]
5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.”
Như vậy, cha hoặc mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con. Ngoài ra, trong trường hợp người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện theo điểm b khoản 2 Điều 84, những cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này cũng có quyền yêu cầu theo quy định pháp luật.
Trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, khoản 4 Điều 84 quy định Tòa án có thể quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
7. Kết luận
Việc cha hoặc mẹ tái hôn sau ly hôn không đương nhiên làm mất quyền trực tiếp nuôi con. Người còn lại cũng không thể chỉ dựa vào việc đối phương đã xây dựng gia đình mới để yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải căn cứ vào thỏa thuận phù hợp với lợi ích của trẻ hoặc việc người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nếu phát sinh tranh chấp, cha mẹ cần xem xét hồ sơ, thu thập chứng cứ hợp pháp và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích của con.
Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn hãy liên hệ Luật Trẻ Việt để được hỗ trợ.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách !
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989185188
Theo dõi chúng tôi:






