CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT

TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
luattrevietbn@gmail.com
0989185188

NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2026

06/10/2026
 4

Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, thay đổi và bổ sung nhiều quy định liên quan đến trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự. Những quy định mới tập trung vào việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong thi hành án, rút ngắn một số thời hạn, hoàn thiện cơ chế xử lý trường hợp chưa có điều kiện thi hành án và mở rộng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án.

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

  • Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026;
  • Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự;
  • Thông tư liên tịch số 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 24/8/2026 quy định về một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/11/2026.

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2026

1. Thủ tục thi hành án được thực hiện trên môi trường số

Trước hết, pháp luật hiện hành đã chính thức công nhận môi trường số là một kênh thực hiện thủ tục thi hành án dân sự, bên cạnh phương thức truyền thống. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 5 Luật Thi hành án dân sự 2025, các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật. Đồng thời, theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, các phương tiện thực hiện trên môi trường số trong thi hành án dân sự, bao gồm:

  • Nền tảng số thi hành án dân sự;
  • Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp;
  • Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);
  • Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự;
  • Thư điện tử và phương tiện khác theo quy định của pháp luật.

2. Thông báo thi hành án

Luật Thi hành án dân sự 2025 bổ sung hình thức thông báo thi hành án trên môi trường số. Căn cứ khoản 3 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định một trong các hình thức thông báo thi hành án là thông báo trên môi trường số. Được hướng dẫn chi tiết tại Điều 15 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, thông báo trên môi trường số được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID. Ngày ứng dụng VNeID báo đã gửi được xác định là ngày thông báo hợp lệ. 

Như vậy, quy định này xác lập một mốc thời gian pháp lý rõ ràng. Khi thông báo được gửi thành công vào tài khoản VNeID của người nhận, hệ thống sẽ ghi nhận thời điểm đó. Đây là căn cứ để xác định thời gian người nhận đã được thông báo hợp lệ.

3. Rút ngắn thời hạn chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành án

Theo quy định tại Điều 28 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền được chia thành nhiều mốc thời hạn khác nhau tùy loại bản án, quyết định như sau:

  • Thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định của Toà án giải quyết phá sản.
  • Thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định đối với Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;
  • Chuyển giao ngay khi ra quyết định đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong khi đó, tại Điều 33 Luật Thi hành án dân sự 2025, việc chuyển giao, gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng, chẳng hạn theo khoản 2 Điều 269 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp pháp luật không có quy định thì cơ quan ra bản án, quyết định phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Sự thay đổi này thể hiện bước đi cụ thể hóa chủ trương “đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương giúp bản án, quyết định được thi hành sớm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

4. Cơ chế xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

Pháp luật bổ sung quy định mới về việc gửi lại yêu cầu thi hành án, cụ thể quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự 2025 được hướng dẫn tại Điều 22 nghị định 152/2026/NĐ-CP, hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:

  • Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng. Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.
  • Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu. Yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm theo phải được sao chụp và lưu trong hồ sơ thi hành án. Thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

Sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Trường hợp có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

Việc yêu cầu thi hành án trở lại thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định này.

5. Biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

a. Biện pháp bảo đảm

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, tại Điều 66 Luật Thi hành án dân sự 2008 chỉ trao thẩm quyền này cho Chấp hành viên, bao gồm ba biện pháp: phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; và tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

Tuy nhiên, theo Điều 66 Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm thi hành án sau: Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản; tạm giữ tài sản, giấy tờ.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

Như vậy, Luật Thi hành án dân sự 2025 đã bổ sung việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó là tạm hoãn xuất cảnh và trao quyền áp dụng biện pháp này cho Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Đồng thời, Điều 66 Luật này làm rõ cũng như mở rộng phạm vi của một số biện pháp, cụ thể: “phong tỏa tài khoản” thành “phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ”; “tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” được quy định thành “tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”.

b. Cưỡng chế thi hành án

Về nguyên tắc, tài sản của người phải thi hành án sẽ là đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và theo khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Quy định này dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau đối với người có tài sản bảo đảm (ví dụ: người thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác) có phải là người phải thi hành án hay không.

Nhằm khắc phục bất cập nêu trên, theo khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự 2025 đã quy định rõ người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm. 

Đối với những trường hợp người phải thi hành án là pháp nhân, tổ chức đặc biệt (ví dụ: hộ kinh doanh, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư,…) thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ vào các quy định của pháp luật chuyên ngành để xác định tài sản nào là tài sản của người phải thi hành án để bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Để thống nhất cho các Chấp hành viên trong việc xác minh, tại khoản 6 Điều 42 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với trường hợp người phải thi hành án là các đối tượng đặc thù. 

6. Đổi tên và mở rộng thẩm quyền của Thừa phát lại

Luật Thi hành án dân sự 2025, đưa ra khái niệm mới là Thừa hành viên thay cho Thừa phát lại (tại Điều 29 Luật Thi hành án dân sự 2025), Văn phòng thi hành án dân sự thay cho Văn phòng Thừa phát lại (tại Điều 26 Luật Thi hành án dân sự 2025).

Đồng thời, so với quy định tại Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại chỉ được thực hiện 04 công việc: 

  • Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; 
  • Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này; 
  • Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; 
  • Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Đến Luật Thi hành án dân sự 2025, Thừa hành viên trên cơ sở kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 nhưng được bổ sung thêm các thẩm quyền hoàn toàn mới, cụ thể tại Điều 30, Điều 31, bao gồm: 

  • Ra quyết định thi hành án: Trưởng văn phòng thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ với người yêu cầu; 
  • Thừa hành viên được quyền đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
Việc Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đánh dấu nhiều thay đổi quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự, đặc biệt là số hóa thủ tục, thay đổi cơ chế thông báo, xử lý án chưa có điều kiện thi hành, mở rộng biện pháp bảo đảm và làm rõ phạm vi tài sản có thể bị cưỡng chế. Do đó, khi có bản án, quyết định cần được tổ chức thi hành, người được thi hành án và người phải thi hành án cần xác định chính xác quyền, nghĩa vụ, thời hạn và trình tự thực hiện để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách!

CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989185188
Email: luattrevietbn@gmail.com
Website: http://luattreviet.vn/
Theo dõi chúng tôi:Duong Gia FacebookDuong Gia TiktokDuong Gia Youtube
Bài viết cùng chuyên mục

Bản đồ

Luật sư sẽ liên hệ lại với bạn ngay lập tức khi nhận được lịch

Danh mục

Bài viết nổi bật

. .