Một số tình huống giải đáp pháp luật về hôn nhân và gia đình
Một số tình huống giải đáp pháp luật về hôn nhân và gia đình
Tình huống 1: Vợ chồng anh A, chị C kết hôn được 15 năm có 500 triệu đồng gửi tiết kiệm, đứng tên anh A. Vì muốn hùn vốn để làm ăn chung với bạn, anh A bàn với vợ rút khoản tiền tiết kiệm trên, nhưng chị C không đồng ý, vì muốn để phòng khi ốm đau. Mặc dù chị C không đồng ý, anh A vẫn tự ý rút số tiền tiết kiệm đó vì cho rằng mình là chủ gia đình nên có toàn quyền quyết định những việc lớn trong gia đình. Hỏi: Anh A có quyền tự ý sử dụng số tiền tiết kiệm đó không, pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 17. Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.”
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.”
Căn cứ khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”
Căn cứ các quy định trên, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Theo đó, anh A không được tự ý dùng số tiền tiết kiệm chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh, việc sử dụng số tiền tiết kiệm phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng.
Tình huống 2: Sau khi kết hôn, anh T yêu cầu vợ là chị H ở nhà nội trợ, chăm sóc con nhỏ và bố mẹ chồng già yếu. Thấy yêu cầu của chồng cũng hợp lý nên chị H nhất trí ở nhà nội trợ, dành thời gian để chăm sóc con cái và bố, mẹ chồng. Tuy nhiên, mẹ chồng chị H thường xuyên đay nhiếc chị H là không chịu làm ăn, chỉ ăn bám chồng, đồng thời cũng nói rằng tài sản trong nhà là của anh T hết, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra. Hỏi: Ý kiến của mẹ chồng chị H về tài sản trong nhà là của anh T, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra là đúng hay sai? Trong trường hợp này, tài sản vợ chồng anh T và chị H được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.”
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
Căn cứ các quy định trên, tài sản do anh T làm ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, chị H thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được coi như lao động có thu nhập và có quyền bình đẳng với anh T trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Theo đó, ý kiến của mẹ chồng chị H, tài sản trong nhà là của anh T, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra là sai với quy định.
Tình huống 3: Anh M và chị N kết hôn từ năm 2020. Năm 2026, bố mẹ anh M cho riêng anh M ngôi nhà mà hiện nay là nơi ở duy nhất của vợ chồng anh M. Hỏi: Trong trường hợp này, khi anh M thực hiện các giao dịch liên quan đến ngôi nhà thì có phải thỏa thuận với chị N không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 31. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng
Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.”
Như vậy, trong trường hợp này, nhà thuộc sở hữu riêng của anh M thì anh M có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ và các con của mình.
Tình huống 4: Chị B và anh T kết hôn năm 2024, hiện nay chị B muốn mở cửa hàng bán quần áo để kiếm thêm tiền, tăng thu nhập cho gia đình nhưng anh T không đồng ý. Vì vậy, chị B đòi chia một phần tài sản chung để chị lo liệu mở cửa hàng. Hai vợ chồng mâu thuẫn vì không thống nhất được với nhau. Hỏi: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có được chia tài sản chung không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”
Như vậy, trong trường hợp này, trước hết chị B nên thuyết phục anh T đồng ý với nguyện vọng chính đáng của mình, nếu không thỏa thuận được với anh T về việc chia một phần tài sản chung, chị B có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng.
Tình huống 5: Chị H và anh N kết hôn từ năm 2015, hiện nay, do làm ăn thua lỗ và mắc nợ một số cá nhân. Vợ chồng chị H anh N đã lập văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của chị H. Hỏi: Văn bản thỏa thuận trên có được pháp luật công nhận không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 42. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ Luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, trong trường hợp này, văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản chung của vợ chồng chị Hoa nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ là vô hiệu và không được pháp luật công nhận.
Tình huống 6: Anh S và chị V đã kết hôn được 08 năm, có 02 con chung. Vừa qua, anh S phát hiện chị V ngoại tình nên nộp đơn xin ly hôn. Trong thời gian chờ tòa án giải quyết cho ly hôn, anh S mua xổ số và trúng thưởng 500 triệu đồng. Anh S cho rằng số tiền trúng thưởng này không được tính vào tài sản chung của vợ chồng anh chị khi ly hôn. Chị V không đồng ý, tranh chấp phát sinh giữa hai vợ chồng. Hỏi: Theo quy định của pháp luật thì số tiền trúng thưởng này có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng anh S?
Trả lời:
Căn cứ khoản 13 và khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.
14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.”
Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”
Căn cứ khoản 1 Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, quy định:
“Điều 9. Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.”
Trong trường hợp này, Tòa án mới thụ lý đơn yêu cầu xin ly hôn của anh S và đang trong giai đoạn xem xét, giải quyết mà chưa có quyết định cho ly hôn. Nên theo quy định quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị V vẫn tồn tại.
Căn cứ các quy định nêu trên thì số tiền anh S trúng thưởng xổ số được tính là tài sản chung của vợ chồng.

Tình huống 7: Anh H và chị L kết hôn năm 2024, một năm sau hai vợ chồng anh chị sinh con đầu lòng là cháu N. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh H có mối quan hệ bất chính bên ngoài, thường xuyên đánh đập vợ con. Không chịu được, chị L đã đề nghị ly hôn (khi đó cháu N mới được 12 tháng tuổi), anh H không đồng ý, nói rằng nếu ly hôn thì chị L sẽ không được nuôi con. Hỏi: Việc giao con cho cha mẹ nuôi dưỡng sau ly hôn được quy định như thế nào? Nếu ly hôn chị L có được nuôi con không?
Trả lời:
1. Việc giao con cho cha mẹ nuôi dưỡng sau ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể như sau:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
2. Căn cứ quy định nêu trên, trong trường hợp này, chị L và anh H có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cháu Phú mới 12 tháng tuổi (dưới 36 tháng tuổi) được giao cho mẹ (chị L) trực tiếp nuôi; trừ trường hợp chị L không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N.
Tình huống 8: Chị K và anh L kết hôn được 10 năm và có con chung là cháu P (06 tuổi). Một năm trước anh L phát hiện chị K có mối quan hệ bất chính bên ngoài nên đã nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Sau ly hôn, cháu P được giao cho bố trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị K kết hôn với anh Q và về sống tại nhà anh Q. Do nhớ con và muốn được chăm sóc cho con, chị K nhiều lần đến nhà anh L để thăm con nhưng anh L không cho chị gặp con và nghiêm cấm không cho cháu P được gặp mẹ, vì anh cho rằng chị K là người phá vỡ hạnh phúc gia đình, không xứng đáng làm mẹ của cháu P. Hỏi: Việc anh L nghiêm cấm không cho chị K được gặp và chăm sóc con là đúng hay sai? Tại sao?
Trả lời:
Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
Việc anh L nghiêm cấm không cho chị K được gặp và chăm sóc con là sai, không phù hợp với quy định pháp luật. Vì theo quy định, chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà anh L không được cản trở.
Tình huống 9: Anh S và chị O học tiểu học cùng nhau. Năm 2020, anh S theo bố mẹ sang định cư tại Đan Mạch. Đầu năm 2026, anh S về thăm quê, anh S có gặp lại chị O, từ đó cả hai nối lại tình bạn. Sau một thời gian trao đổi, liên hệ với nhau qua điện thoại, mạng xã hội, chị O tỏ ý muốn sang Đan Mạch định cư và nhờ anh S giúp đỡ bằng cách đồng ý kết hôn với chị O. Hai anh chị sẽ ly hôn sau khi chị O được nhập quốc tịch và đã sang Đan Mạch cư trú. Hỏi: Trường hợp này pháp luật có nghiêm cấm không và nếu S và O vẫn thực hiện thì xử lý như thế nào?
Trả lời:
1. Căn cứ khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.”
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;”
Từ các căn cứ nêu trên, hành vi của anh S và chị O trong trường hợp này là hành vi kết hôn giả tạo thuộc hành vi cấm theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, quy định:
“Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;”
Như vậy, hành vi của anh S và chị O trong trường hợp này sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tình huống 10: Năm 2000, anh A và chị B kết hôn và chung sống với bố mẹ chồng. Cuộc sống gia đình thuận hòa, hạnh phúc cho đến khi chị B phát hiện anh A vẫn thường xuyên qua lại với người yêu cũ và đã có một người con chung. Không chấp nhận sự lừa dối, nên chị B muốn ly hôn, song không rõ nếu ly hôn thì tài sản của vợ chồng tôi sẽ được chia như thế nào. Hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn?
Trả lời:
Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Theo đó, nếu ly hôn, tài sản chung của vợ chồng anh A và chị B sẽ được chia dựa trên các quy định nêu trên.
Tình huống 11: Năm 2015, sau 5 năm dành dụm tiết kiệm, anh A mua được 01 ngôi nhà cấp 4. Đến đầu năm 2020, anh A kết hôn với chị B. Sau khi sinh cháu M, do nhu cầu chỗ ở tăng nên anh chị xin phép cơ quan có thẩm quyền và được đồng ý cho sửa chữa, tôn tạo ngôi nhà trên. Vừa qua, anh A phát hiện chị B có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nên yêu cầu ly hôn. Về cháu M, anh chị thống nhất do anh A nuôi, hàng tháng chị B cấp dưỡng cho con là 1 triệu đồng. Về tài sản chung, chị B không có nhu cầu sử dụng nên yêu cầu anh A định giá rồi chia đôi. Anh A không đồng ý vì cho rằng nhà là do anh mua trước khi kết hôn. Hỏi: Trong trường hợp này quyền lợi của các bên đối với căn hộ tập thể được xác định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”
Trường hợp của vợ chồng anh A, chị B, nếu anh A chỉ đưa căn nhà vào sử dụng chung mà không đồng ý để chị B cùng đồng sở hữu trong Giấy chứng nhận sở hữu nhà thì vẫn được xác định là tài sản riêng của anh A khi ly hôn mặc dù trong quá trình chung sống anh chị có cùng nhau tôn tạo, sửa chữa nhà. Anh A phải thanh toán cho chị B một phần giá trị căn nhà, căn cứ vào công sức đóng góp trong việc bảo dưỡng, cải tạo, sửa chữa nhà.
Ngược lại, nếu anh A đã đồng ý cho chị B cùng sở hữu nhà (thể hiện ở việc cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc có văn bản thỏa thuận riêng) thì căn hộ thuộc sở hữu chung của vợ chồng anh A, chị B. Việc chia tài sản lúc này được thực hiện theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại khoản 2, 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh A có nghĩa vụ hỗ trợ cho chị B tìm chỗ ở mới, nếu chị B có khó khăn và không thể tìm được chỗ ở mới. Chị B được quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng để tìm chỗ ở khác.
Tình huống 12: Chị H và anh T kết hôn năm 2023. Đầu năm 2025, khi đang mang thai 04 tháng chị H phát hiện anh Tám có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Khi bị chị H phát hiện, anh T đã công khai mối quan hệ này và làm đơn ly hôn với chị H. Hỏi: Trong trường hợp này, pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Căn cứ quy định nêu trên, trong trường hợp này chị Huế đang có thai, nên anh T không có quyền yêu cầu ly hôn.
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989185188
Email: luattrevietbn@gmail.com
Website: http://luattreviet.vn/
Theo dõi chúng tôi:






