Những khó khăn, vướng mắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay
Những khó khăn, vướng mắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay
Hệ thống pháp luật Việt Nam về cơ bản đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát, phát hiện và xử lý hàng hóa xâm phạm quyền SHTT.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt khi Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA…, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại biên giới trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan hải quan. Hệ thống pháp luật Việt Nam về cơ bản đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát, phát hiện và xử lý hàng hóa xâm phạm quyền SHTT. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cả về quy định pháp luật, cơ chế phối hợp, cũng như năng lực thực thi, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo hộ quyền SHTT của cơ quan hải quan.
Thứ nhất, các quy định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT quy định tại Luật Hải quan không áp dụng đối với hàng hóa quá cảnh.
Việt Nam có hơn 2.000 km biên giới với Lào và Campuchia, hơn 700 km với Trung Quốc, đặc biệt ở khu vực Quảng Châu – ‘kinh đô hàng nhái thế giới’ – là một trong những điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực.
Theo CPTPP quy định tại Điều 18.76 khoản 5 mục c, các quốc gia phải “thực thi kiểm soát hải quan đối với hàng hóa quá cảnh đối với hàng hóa nghi ngờ xâm phạm khi vận chuyển từ cơ quan hải quan này đến cơ quan hải quan khác trên lãnh thổ của bên mà từ đó hàng hóa được xuất đi. Yêu cầu mỗi bên phải nỗ lực trừ bỏ hoạt động thương mại quốc tế về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc hàng sao chép lậu quyền tác giả”. Theo quy định này, Hiệp định yêu cầu Việt Nam quy định thẩm quyền chủ động tiến hành các biện pháp tại biên giới của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, tập kết để xuất khẩu hoặc nhập khẩu bị nghi ngờ là giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu quyền tác giả và từ 14/01/2021 Việt Nam phải nghiêm túc thực hiện quy định về kiểm soát hàng hóa quá cảnh để bảo vệ quyền SHTT.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, Khoản 3, Điều 73 Luật Hải quan quy định “Các quy định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT quy định tại Luật này không áp dụng đối với hàng hóa viện trợ nhân đạo, tài sản di chuyển, hàng hóa được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ, hành lý, quà biếu, quà tặng trong tiêu chuẩn miễn thuế và hàng hóa quá cảnh”. Điều này, gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong trường hợp chủ sở hữu quyền có yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa quá cảnh có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, dẫn đến tranh chấp giữa cơ quan hải quan, chủ sở hữu quyền SHTT và người làm thủ tục hải quan.
Thứ hai, quy định về nhãn hàng hóa. Theo quy định tại khoản 3, Điều 3 Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021 của Chính phủ, sau đây gọi tắt là Nghị định số 43/2017/NĐ-CP) thì "Nhãn gốc của hàng hoá" là nhãn thể hiện lần đầu do tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa. Theo quy định tại khoản 4, Điều 3 Nghị định 43/2017/NĐ-CP thì "Nhãn phụ" là nhãn thể hiện những nội dung bắt buộc được dịch từ nhãn gốc của hàng hóa bằng tiếng nước ngoài ra tiếng Việt và bổ sung những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt theo quy định của pháp luật Việt Nam mà nhãn gốc của hàng hóa còn thiếu.
Theo quy định khoản 3 Điều 8 Nghị định 43/2017/NĐ-CP thì nhãn phụ phải được gắn trên hàng hoá hoặc bao bì thương phẩm của hàng hoá và không được che khuất nội dung của nhãn gốc. Nội dung ghi trên nhãn phụ phải phản ánh trung thực bản chất, nguồn gốc hàng hóa. Hàng hóa không xuất khẩu hoặc bị trả lại, khi lưu thông nội địa phải ghi rõ “Được sản xuất tại Việt Nam”.
Theo quy định khoản 4, Điều 9 Nghị định 43/2017/NĐ-CP “Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc không phù hợp với quy định của Nghị định này thì tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải ghi nhãn phụ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 và các khoản 3, 4 Điều 8 của Nghị định này khi đưa ra lưu thông và phải giữ nguyên nhãn gốc”.
Khoản 1, Điều 10 Nghị định 43/2017/NĐ-CP quy định nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa bao gồm: (i) Tên hàng hóa; (ii) Tên địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; (iii) Xuất xứ hàng hóa; Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa; (iv) Các tiêu chí khác tùy theo mặt hàng.
Theo quy định khoản Điều 4 Nghị định 43/2017/NĐ-CP, nhãn phải đặt ở vị trí dễ quan sát, đầy đủ thông tin, mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Trường hợp không được hoặc không thể mở bao bì ngoài th́ì trên bao b́ì ngoài phải có nhãn và nhãn phải trình bày đầy đủ nội dung bắt buộc.
Thực tiễn kiểm tra việc tuân thủ quy định về nhãn đối với hàng hóa nhập khẩu, trong đó một số doanh nghiệp lợi dụng “quy định này” trong việc ghi nhãn hàng hóa vừa để đối phó với lực lượng Hải quan, lừa dối người tiêu dùng, gây khó khăn cho công tác kiểm soát, quản lý nhà nước. Ví dụ: trường hợp doanh nghiệp trên nhãn gốc của hàng hóa không có tiêu chí: Xuất xứ hàng hóa, không có tiêu chí nhà sản xuất. Nhưng doanh nghiệp có nhãn phụ đánh đầy đủ các thông tin hàng hóa theo quy định trong đó có tiêu chí xuất xứ. Tuy nhiên, nhãn phụ này chỉ là một mảnh giấy trắng được dán keo, băng dính vào bao bì thương phẩm của hàng hóa. Vấn đề đặt ra ở đây là “nhãn phụ” có được “bóc” ra hay không trong quá trình vận chuyển vào nội địa hoặc trước khi bán cho khách hàng.
Mặt khác theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 1 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa quy định hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ nội địa không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định. Do đó, các doanh nghiệp thường viện lý do này để đối phó khi lực lượng hải quan kiểm tra, xử lý vi phạm.
Ảnh minh họa.
Thứ ba, xử lý hàng hóa xâm phạm quyền SHTT, hàng giả mạo là hàng hóa xuất khẩu. Theo các cam kết quốc tế như Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA, cơ quan Hải quan có trách nhiệm áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới đối với cả hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi. Trước hết, hệ thống pháp luật trong nước chưa thực sự đồng bộ và có độ trễ nhất định so với yêu cầu hội nhập. Một số văn bản như Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp chưa quy định đầy đủ chế tài xử lý đối với hành vi xuất khẩu hàng giả mạo nhãn hiệu, dẫn đến khoảng trống pháp lý. Bên cạnh đó, mặc dù Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập, hồ chứa thủy điện; đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định “Buôn bán” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông, song trong thực tiễn áp dụng vẫn có sự lúng túng, chưa thống nhất khi xác định và xử lý hành vi xuất khẩu hàng giả theo khái niệm này. Ngoài ra, các quy định liên quan nằm phân tán ở nhiều văn bản như Luật Hải quan, Luật Sở hữu trí, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định hướng dẫn, dẫn đến việc tra cứu, viện dẫn và áp dụng pháp luật trong từng vụ việc cụ thể còn phức tạp, mất thời gian. Công tác xác minh, chứng minh hành vi vi phạm cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong trường hợp hàng hóa được sản xuất trong nước nhưng thể hiện thông tin giả mạo về nhà sản xuất, xuất xứ nước ngoài trên nhãn và bao bì, đòi hỏi cơ quan hải quan phải tiến hành kiểm tra, đối chiếu và phối hợp nhiều bên liên quan. Dù khung pháp lý đã từng bước được hoàn thiện, nhưng việc thiếu đồng bộ, chưa thống nhất trong áp dụng và khó khăn trong thực tiễn kiểm tra, xác minh vẫn là những yếu tố cản trở hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của cơ quan hải quan.
Thứ tư, thực hiện quyền chủ động trong việc kiểm tra hàng hóa có yêu cầu bảo vệ quyền SHTT. Theo Điều 58 Hiệp định TRIPS, cơ quan có thẩm quyền có thể chủ động đình chỉ thông quan khi có căn cứ rõ ràng về hành vi xâm phạm quyền SHTT. Quy định này đã được nội luật hóa tại khoản 4 Điều 216 Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022), theo đó trong quá trình áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 216, nếu phát hiện hàng hóa giả mạo về SHTT theo Điều 213 thì cơ quan hải quan có quyền và trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý theo Điều 214 và Điều 215 của Luật này. Đồng thời, Luật Hải quan năm 2014 (đặc biệt tại Điều 88 và Điều 89) cũng quy định thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra, kiểm soát, tạm giữ hàng hóa để phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Tuy nhiên, việc thực thi quyền chủ động này trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn do quy định pháp luật còn mang tính khái quát, chưa có hướng dẫn cụ thể về điều kiện, thời điểm áp dụng cũng như trình tự, thủ tục thực hiện khi cơ quan hải quan chủ động tạm dừng thông quan hàng hóa. Bên cạnh đó, việc xác định dấu hiệu nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự chủ động của cán bộ hải quan thông qua tra cứu thông tin, liên hệ với chủ thể quyền hoặc tổ chức đại diện, nhưng chưa có cơ chế phối hợp thống nhất trong toàn ngành. Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định rõ cách thức xử lý trong trường hợp cơ quan hải quan đã thông báo nhưng chủ thể quyền không phản hồi, dẫn đến lúng túng trong quá trình xử lý. Những hạn chế này cho thấy, mặc dù quyền chủ động đã được ghi nhận tại các quy định pháp luật nêu trên, nhưng việc thiếu hướng dẫn chi tiết và cơ chế thực thi đồng bộ vẫn là rào cản đối với việc nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHTT tại biên giới.
Thứ năm, khó khăn trong áp dụng biện pháp can thiệp đột xuất trong hệ thống VNACCS đối với hàng hóa có yêu cầu bảo vệ quyền SHTT. Việc triển khai Hệ thống VNACCS làm thay đổi phương thức kiểm soát hải quan theo hướng tự động hóa, trong đó hệ thống tự phân luồng và xử lý tờ khai, đặc biệt đối với luồng xanh. Điều này đặt ra yêu cầu áp dụng hiệu quả quản lý rủi ro trong lĩnh vực SHTT, tuy nhiên trên thực tế còn nhiều hạn chế do thông tin về nhãn hiệu không phải là dữ liệu bắt buộc trong khai báo hải quan, trong khi các tiêu chí rủi ro hiện nay chủ yếu dựa vào mã HS hoặc doanh nghiệp trọng điểm, chưa phản ánh đầy đủ rủi ro xâm phạm quyền SHTT. Bên cạnh đó, chưa có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng biện pháp “can thiệp đột xuất” khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ trong quá trình hệ thống tự động thông quan, cũng như mối quan hệ giữa cơ chế này với thủ tục thông báo và tạm dừng làm thủ tục hải quan, dẫn đến lúng túng trong thực tiễn áp dụng. Do đó, cần hoàn thiện quy định và hướng dẫn nghiệp vụ nhằm bảo đảm cơ quan hải quan có thể chủ động can thiệp, đồng thời vẫn duy trì hiệu quả của hệ thống thông quan tự động.
Thứ sáu, khó khăn trong xác định trị giá tang vật là hàng giả mạo nhãn hiệu. Theo khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính, việc xác định trị giá tang vật vi phạm được thực hiện theo thứ tự ưu tiên: (i) giá niêm yết, hợp đồng, hóa đơn hoặc tờ khai nhập khẩu; (ii) giá theo thông báo của cơ quan tài chính hoặc giá thị trường; (iii) giá thành đối với hàng chưa tiêu thụ; (iv) đối với hàng giả thì xác định theo giá của hàng thật hoặc hàng hóa tương đương trên thị trường. Quy định này cũng được hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng gặp nhiều vướng mắc. Việc ban hành Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thay thế Nghị định số 185/2013/NĐ-CP) đã thay đổi cách tiếp cận đối với hàng giả, trong đó không còn quy định riêng về “hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ” như trước đây. Điều này gây khó khăn trong việc xác định cơ sở pháp lý để áp dụng quy định về định giá tang vật, đặc biệt là nguyên tắc xác định theo “giá hàng thật” tại khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trên thực tế, hàng giả mạo nhãn hiệu thường không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, nên việc xác định trị giá và thành lập Hội đồng định giá gặp nhiều lúng túng, ảnh hưởng đến việc xác định khung tiền phạt và thẩm quyền xử lý. Ngoài ra, việc thành lập Hội đồng định giá trong trường hợp không xác định được giá cũng gặp lúng túng do thiếu căn cứ và dữ liệu tham chiếu để xác định giá trị hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Vì vậy, việc xác định trị giá tang vật đối với loại hàng hóa này trên thực tế còn thiếu thống nhất, gây khó khăn cho việc xác định khung tiền phạt và thẩm quyền xử lý.
Thứ bảy, một số quy định về thẩm quyền xử lý hành chính và và xử lý hình sự chưa phù hợp với nhiệm vụ của của cơ quan hải quan. Thực tiễn thực thi bảo hộ quyền SHTT tại biên giới cho thấy một số quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm của cơ quan hải quan còn chưa thống nhất và chưa thật sự phù hợp. Theo khoản 4 Điều 15 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, thẩm quyền xử phạt của cơ quan hải quan chủ yếu giới hạn trong một số hoạt động như nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh hàng hóa, trong khi nhiều hành vi vi phạm có thể phát sinh ở các khâu khác như vận chuyển, lưu giữ, dẫn đến phải chuyển cơ quan khác xử lý, làm giảm tính chủ động và kéo dài thời gian giải quyết vụ việc. Đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đưa vào kho ngoại quan, quy định tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan còn chưa bảo đảm tương thích đầy đủ với yêu cầu của Hiệp định CPTPP về việc tiêu hủy hoặc xử lý hàng hóa xâm phạm quyền SHTT ngoài kênh thương mại, dẫn đến khó khăn trong áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Bên cạnh đó, các quy định về biện pháp xử lý trong Nghị định số 99/2013/NĐ-CP còn thiếu thống nhất giữa các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, dẫn đến cách áp dụng chưa đồng nhất trong thực tiễn. Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa trao thẩm quyền cho cơ quan hải quan trong việc khởi tố, điều tra các tội xâm phạm quyền SHTT theo Điều 225 và Điều 226 Bộ luật Hình sự, nên khi phát hiện dấu hiệu tội phạm phải chuyển hồ sơ cho cơ quan công an, qua đó hạn chế tính chủ động trong xử lý.
Thứ tám, khó khăn trong xử lý hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT bị tịch thu khi không xác định được người vi phạm. Thực tiễn cho thấy cơ quan hải quan đã tịch thu nhiều tang vật vi phạm hành chính, trong đó có hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, khi không xác định được chủ thể vi phạm. Tuy nhiên, việc xử lý các trường hợp này còn gặp nhiều khó khăn do không áp dụng được biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 3 Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp không xác định được người vi phạm. Đồng thời, nhiều lô hàng không có chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, trong khi một số loại hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm chỉ được phát hiện khi kiểm tra theo kế hoạch chống buôn lậu, không phải theo đơn yêu cầu bảo hộ của chủ thể quyền, dẫn đến hạn chế trong cơ chế phối hợp và xử lý. Bên cạnh đó, đối với các lô hàng có số lượng nhỏ, chi phí giám định thường cao hơn giá trị thu hồi từ xử lý tài sản, gây khó khăn về hiệu quả kinh tế trong việc trưng cầu giám định. Trong một số trường hợp, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cũng chưa đủ rõ ràng để phân định hàng thật, hàng giả theo tiêu chí về sự cho phép của chủ sở hữu quyền, dẫn đến lúng túng trong việc xác định căn cứ xử lý và xây dựng phương án xử lý tang vật.
Thứ chín, hạn chế trong công khai thông tin về bản án, quyết định và chủ thể quyền SHTT. Thực tiễn bảo hộ quyền SHTT cho thấy cơ quan hải quan còn thiếu nguồn thông tin đầy đủ, kịp thời về các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án cũng như thông tin chính thức về xác lập, thay đổi, chuyển giao quyền SHTT từ cơ quan quản lý chuyên ngành. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định chủ thể quyền và đánh giá dấu hiệu vi phạm, dẫn đến nguy cơ áp dụng biện pháp tạm dừng hoặc tạm giữ hàng hóa không cần thiết, làm giảm hiệu quả hoạt động kiểm soát biên giới. Tuy nhiên, hiện nay các thông tin này chưa được công khai, hệ thống hóa và chia sẻ đồng bộ, gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong quá trình tra cứu và áp dụng pháp luật.
Thứ mười, hạn chế trong cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin quốc tế về kiểm soát biên giới SHTT. Trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do như CPTPP và EVFTA, mặc dù đã có quy định về biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xâm phạm quyền SHTT, nhưng hiện chưa thiết lập được cơ chế đầu mối liên lạc thống nhất giữa các quốc gia thành viên để trao đổi thông tin về các lô hàng nghi ngờ vi phạm. Điều này làm hạn chế hiệu quả phối hợp quốc tế, ảnh hưởng đến việc tiếp nhận, xác minh và xử lý thông tin, cũng như làm giảm giá trị và tính kịp thời của nguồn tin phục vụ công tác kiểm soát hải quan.
Có thể thấy, mặc dù hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT tại biên giới đã được xây dựng tương đối đầy đủ và từng bước tiệm cận với các cam kết quốc tế, nhưng quá trình thực thi vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trên nhiều phương diện. Các khó khăn này xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật, những bất cập trong cơ chế phối hợp trong nước và quốc tế, cũng như những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng như kiểm soát hàng hóa quá cảnh, xác định trị giá tang vật, xử lý hàng hóa vi phạm, hay tiếp cận thông tin về chủ thể quyền. Những hạn chế nêu trên không chỉ làm giảm hiệu quả công tác kiểm soát biên giới mà còn ảnh hưởng đến tính chủ động của cơ quan hải quan trong bảo vệ quyền SHTT.
Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất với các cam kết quốc tế, đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong và ngoài nước là yêu cầu cấp thiết. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi bảo hộ quyền SHTT của cơ quan hải quan, góp phần bảo đảm môi trường thương mại lành mạnh và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách !
CÔNG TY LUẬT TNHH TRE VIỆT - TIN TRE VIỆT TRỌN GIÁ TRỊ
HOTLINE: 0989.185.188
Theo dõi chúng tôi:






